Bình chọn
Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử?
41 người đã bình chọn
 Thống kê truy cập
Thống kê: 17.994
Online: 246

Xã Thiết Kế nằm trong Mường Ống, một trong những mường cổ nhất của dân tộc Mường Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Thiết Kế chỉ có dân tộc Mường. Người Mường có mặt từ thời hình thành Chu Chương Mường Nước, dưới thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang. Mo Đẻ Đất Đẻ Nước diễn tả quá trình Vua Dịt Dàng mang quân đi chặt cây Chu đá, lá Chu đồng, bông thau, quả thiếc trên núi Lai Li Lai Láng, sau mường Ca Da, Ký Ống, đã đi lên núi từ làng Kế:

Qua Kẹm Cặp, nắp nắp hang Phin

Bìm bìm hang Tắng

Đường dài dằng dặc

Lên cây Chu đá, lá Chu Đồng,

bông Thau, quả Thiếc

Mọc sau mường Ca Da

Sau nhà tạo Ký, Ống”.     

Khi kéo Chu ra sông Mã, đầu cây Chu lao xuống suối ở đoạn gần sông, tạo thành một vụng nước sâu, hình tròn. Vụng đó được đặt tên là vụng Chu, còn mãi đến bây giờ. Làng nơi kéo cây Chu đi qua, giáp giữa chân núi và bờ sông được đặt tên là làng Chu, sau này đổi thành làng Cha.

Theo các cụ kể rằng, ông Phạm Văn Hai (Tạo Hai), ông từ Hòa Bình lên Mộc Châu, Sơn La, rồi xuôi theo dòng sông Mã đi tìm miền đất mới, đến đây ông thấy con suối Chu dồi dào nguồn nước và một vùng đất bằng phẳng dọc hai bên suối, dân cư thưa thớt, ông dừng lại đây để lập làng, ngăn suối, khai khẩn đất hoang. Trong thời gian dài qua nhiều lần sinh nở không trọn vẹn, ông phải lấy con nuôi, con nuôi đều mang theo họ Phạm của cha nuôi, trước khi ông qua đời, ông đã dặn phải chôn ông ở nơi đất bằng phẳng, cách vũng Chu 100 thước về hướng bắc, đầu chỉ về phương bắc, chân về phương nam, dân làng và dòng họ lập nhà thờ người Cha nuôi tại đây, ở đó còn có hai cây cổ thụ khoảng năm đến sáu trăm năm tuổi. Để ghi nhớ công ơn Cha nuôi có công lập làng, nên đã chuyển tên làng Chu thành làng Cha từ đó.

Cũng theo các cụ kể lại và qua lời các bài mo, bài cúng thần, gia phả dòng họ Lục còn lưu truyền, thì ở làng Kế có ông Lục văn Thứ, Xuất thân từ một gia đình có 5,6 đời bơi lặn giỏi, đã được Ngô Quyền, con rể của Dương Đình Nghệ, tuyển mộ vào đội thủy binh, tham gia trận đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Sau khi đất nước thanh bình, ông trở về, mang theo giống tre la ngà về trồng ở làng. Làng đó đặt tên là làng La Ngà, sau này mới đổi ra làng Kế.

Trong quá trình lịch sử hàng nghìn năm, làng Kế, làng Cha tiếp nhận thêm một số gia đình lẻ tẻ từ Thiên Quan (Hòa Bình) xuống, dưới xuôi lên nhập cư. Ngoài họ Lục, họ Phạm và họ Bùi ra, làng Kế, làng Cha có thêm các họ: Hà, Lê, Ngân, Vi, Nguyễn. Dân số phát triển thêm đã hình thành thêm làng Luồng và chia một bộ phận đi khai phá ra làng Hang, làng Cú.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở miền núi Thanh Hóa tồn tại hai chế độ thống trị. Chế độ thổ ty lang đạo, các làng Cha, Kế, Luồng, trực thuộc Mường Ống, dưới sự cai quản của lang đạo họ Phạm Chiềng Ống. Chính quyền phong kiến tay sai, hình thành hai xã thuộc tổng Thiết Úng, châu Tân Hóa là xã Thiết Kế, gồm làng Kế, làng Luồng và xã Thiết Chà, gồm làng Cha, làng Cú, làng Hang.

 Năm 1948, dưới chính quyền nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ba làng Kế, Luồng, Cha được ghép với xã Kỷ Luật và Kỷ Thọ, thành lập xã Văn Nho, thuộc huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Hai làng: Hang, Cú nhập vào với xã Thiết Ống.

Năm 1964, xã Văn Nho chia thành 3 xã là Văn Nho, Kỷ Tân, Thiết Kế. Địa bàn và ranh giới xã Thiết Kế ổn định từ thời điểm ấy đến nay.

Thực hiện Quyết định 959, QĐ/UBND, ngày 14 tháng 4 năm 2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, chia tách làng Cha và làng Kế, hình thành hai làng mới: Làng Cha tách ra làng Khung; làng Kế tách ra làng Chảy Kế. Hiện nay xã Thiết Kế có 5 làng là làng Khung, làng Cha, làng Luồng, làng Kế và làng Chảy Kế.

- Làng Chảy Kế gồm có: 122 hộ, 493 nhân khẩu.

- Làng Kế gồm có: 204 hộ, 889 nhân khẩu.

- Làng Luồng gồm có: 98 hộ, 382 nhân khẩu.

- Làng Cha gồm có: 235 hộ, 995 nhân khẩu.

- Làng Khung gồm có:123 hộ, 486 nhân khẩu.

 Liên kết website